Bài học cơ bản về Flash (p2) !

Sao chép thuộc tính đường nét và áp dụng cho đường nét khác :

Nhấn phím I chọn công cụ Eyedropper , đặt con trỏ biểu tượng ống nhỏ giọt lên đường nét mà bạn muốn sao chép ,khi đó sẽ xuất hiện hình cây bút chì nhỏ bên cạnh ống nhỏ giọt . Nhấp chuột vào đường nét mà bạn muốn sao chép , từ công cụ Eyedropper sẽ kích hoạt công cụ Ink bottle (tính năng đã giới thiệu trong bài trước). Sau đó bạn chỉ cần nhấp chuột vào bất kỳ đường nét nào muốn thay đổi thuộc tính như đường viền lấy từ công cụ Eyedropper thì đường nét đó sẽ có thuộc tính như đường nét gốc .

Tính năng Lock Fill của Brush và Paint Bucket :

Điều khiển cách thức tô màu với các vùng màu kiểu gradient , khi chọn thì sử dụng cùng một kiểu màu gradient , còn khi không chọn mỗi vùng tô sẽ hiển thị khác biệt các kiểu tô mà bạn áp dụng gradient .

Tính năng Gap Size của Paint Bucker :

Xử lý đường viền không bao kín vùng tô màu với 4 thông số chính :

-Don’t Close Gaps : Không tô vùng mà đường viền chưa bao kín .

-Close Small Gaps : Tô vùng có đường viền hở rất nhỏ .

-Close Medium Gaps : Tô vùng có đường viền hở trung bình .

-Close Large Gaps : Tô vùng có đường viền hở lớn

Làm mềm đường biên :

Chọn một lúc nhiều hình dạng trên khung làm việc (không phải phần tử của một nhóm) , sau đó chọn Modify>Shape>Soften Fill Edges .Hộp thoại hiện ra bạn chỉnh sử thông số theo ý mình .Với :

-Distance :Khoảng cách giữa đường biên mềm và đường biên ngoài tính trên Pixel .

-Number of Step : Số bước từ đường biên đầu đến kết thúc đường biên mềm . Không nên sử dụng nhiều bởi làm thế sẽ khiến cho máy phải tính toán nhiều hơn trước rất nhiều mỗi khi thực hiện một cử động flash,nên chọn 10 là tối đa).

-Derection : Chọn hướng để đường biên mềm tạo ra bên ngoài (Expand) hoặc trong (Insert) hình dạng

Gióng hàng các đối tượng :

Nhấn Ctrl + K để sử dụng chức năng này .Với các tham số :

Align left edge : canh trái đều các đối tượng

Align horizontal center : canh giữa theo hàng dọc các đối tượng

Align right edge : canh phải đều các đối tượng

Align top edge : canh trên đều các đối tượng

Align vertical center : canh giữa theo hàng ngang các đối tượng

Align bottom edge : canh dưới đều các đối tượng

Distribute top edge : canh trên đều cho các hàng đối tượng

Distribute vertical center : canh giữa theo hàng ngang cho các dòng đối tượng

Distribute bottom edge : canh dưới đều cho các hàng đối tượng

Distribute left edge : canh trái đều cho các hàng đối tượng

Distribute horizontal center : canh giữa theo hàng dọc cho các dòng đối tượng

Distribute right edge : canh phải đều cho các hàng đối tượng

Match width : canh đều trái và phải tất cả đối tượng

Match height : canh đều trên và dưới tất cả đối tượng

Match width and height : kết hợp hai thứ trên

Space evenly vertically : khoảng cách đều giữa các đối tượng theo hàng ngang

Space evenly horizontally : khoảng cách đều giữa các đối tượng theo hàng dọc.

Lật các đối tượng :

Đôi khi làm việc với flash ta cần lật (quay) đối tượng một góc nào đó hoặc lật ngược đối tượng. Do đó mà sử dụng các tính năng Flip là rất cần thiết .Tất cả được gộp chung khi bạn chọn đối tượng rồi đưa tới Modify>Transform> ? và ? sẽ là :

-Free Transform : tại đây bạn có thể quay một góc bất kỳ , tăng giảm kích thước , thay đổi góc độ cho một phần đối tượng

-Distort : thay đổi góc độ cho một phần đối tượng từ một điểm

-Envelope : tương tự như distort nhưng giữa các điểm vuông sẽ thêm vào các điểm tròn , các điểm tròn này có nhiệm vụ bo tròn các góc nhọn

-Scale : Chỉ có tác dụng thay đổi kích thước , nếu xài chức năng này thì tốt hơn là xài Free Transform

-Rotate and Skew : quay đối tượng bằng chuột và dời đối tượng

-Scale and Rotate : thay đổi kích thước đối tượng và góc xoay tự nhập

-Rotate 90′ CC : quay đối tượng một góc 90′ từ bên trái lên trên

-Rotate 90′ CCW : quay đối tượng một góc 90′ từ bên phải lên trên

-Flip Vertical : lật ngược đối tượng theo chiều ngang

-Flip Horizontal : lật ngược đối tượng theo chiều dọc

-Remove Transform : bỏ chọn Transform
Làm việc với Flash thì quan trọng bốn khâu quan trọng nhất đó chính là khung hình. Nói cho dễ hiểu thì ta cứ tưởng tượng trong một đoạn phim sẽ có 24hình/giây thì bằng cách thiết lập thông số frame (đã học trong bài đầu) thì ta có thể hình dung rằng một frame (khung hình) sẽ tương đương một hình trong Flash, và nếu bạn đặt thông số 12 fps thì sẽ có 12 hình hiển thị trong một giây cho bạn. Nói cho cùng thì flash cũng không khác video cho lắm nhưng bạn phải lưu ý rằng nếu cài đặt số khung hình càng cao trong một giây thì cái giá phải trả cho dung lượng đoạn flash sẽ lớn lên theo tỉ lệ nghịch (đây là điều tối kị với thiết kế Web) hoặc khung hình càng thấp thì chuyển động trong flash càng tệ. Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu bài học.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s